KYOTO RESEARCH

Để chữ research vậy thôi chứ thực ra đây là những gì trong quá trình dịch mình biết được về văn hóa và tín ngưỡng dân gian ở cố đô Kyoto, nơi được mệnh danh là hiện thân của Nhật Bản cổ xưa huyền thoại, viết nó ra làm reference sao này có gì cần dùng, và dù có tham khảo trước nhưng tự viết thì ắt hẳn còn sai sót nên ai thấy sai thì bảo con dân để nó sửa lại ;__; Viết xong đọc lại thì có một số cái chung không chỉ nằm trong phạm vi Kuoto không thôi, nhưng vì thấy hay nên bỏ vô luôn

Kitano Tenmangu: hay còn được gọi là Thiên Mãn Cung, là đền Thần Đạo ở Kamigyou-ku xây dựng từ năm 947 theo kiến trúc Gongen-zukuri. Đền thờ thần Sugawara no Michizane (845-903) – một học giả uyên bác ở thời kì đầu Heian. Ông là một vị thần về trí tuệ, học vấn nên học sinh thường đến đây để cầu được may mắn trước các kỳ thi.

Kyo-kotoba: hay Kyo-ben, tiếng địa phương của Kyoto. Tập hợp tiếng địa phương ở Nara, Wakayama, Mie, Kyoto, Osaka, Hyogo và Shiga – 7 quận thuộc vùng Kinki (Kansai), được gọi chung là Kansai-ben.

Hanamachi: trong tiếng Nhật có nghĩa là “hoa nhai/flower town” – hay còn được biết đến là phố hoa (quận geisha), khu vực tập trung các geisha hoạt động và sinh sống, là một trong những nét rất đặc trưng ở Kyoto.

Kamishichiken: nghĩa là Thất Thượng Thiên (bảy ngôi nhà trên cao) nằm ở phía tây bắc Kyoto, phía đông hướng đền Kitano Tenmangu, được thành lập năm 1440, là hanamachi lâu đời nhất ở Nhật Bản. Ở đây có khoảng 25 geisha và meiko (geisha tập sự) cùng 11 ochaya (tiếng Anh là teahouse, nhưng ở đây là nơi geisha hoạt động) Ngoài Kamishichiken, Gion, Miyagawachou và Pontochou cũng là những hanamachi vô cùng nổi tiếng ở Kyoto.

Ema: âm hán việt là Hội Mã, là những phiến gỗ nhỏ thường được treo trước đến mà những người thờ Thần Đạo dùng để viết lời cầu nguyện hay điều ước của mình. Hội mã nghĩa là Ngựa Vẽ, bắt nguồn từ thời cổ đại, ngựa được coi là một biểu tượng rất thiêng liêng gắn liền với các vị thần. Thuở xa xưa, người ta cầu khẩn thần thánh bằng cách dâng một con ngựa trắng cho đền, nhưng dần tục lệ này được đơn giản hóa lại bằng cách dâng tượng ngựa trắng và sau này là những phiến gỗ với hình khắc họa bạch mã ở trên. Phong tục dâng ema cho đền thờ được biết đến từ thời Nara (710 – 794). Thông thường, mặt trước của các ema được trang trí bằng họa tiết theo lối Ukiyo-e và mặt sau để ghi điều ước.

Komainu: hay còn gọi là Cao Ly Khuyển, là loại sư tử-chó bảo vệ đền thờ Thần Đạo, thường được đặt thành cặp đôi với một con há miệng, tượng trưng cho việc trừ tà và một con ngậm miệng tượng trưng cho việc trấn giữ linh khí.

Yasui Konpira-gu: nằm ở phía đông Kyoto, là nơi thờ phụng Thiên hoàng Sutoku, Yorimasa của Gia tộc Minamoto và Oomono no Kami (kami nghĩa là thần thánh trong tiếng Nhật) Lịch sử ngôi đền này bắt đầu từ trước thời Nara, ở triều đại của Thiên hoàng thứ 38 (661 – 671) – Thiên hoàng Tenchi (626 – 672). Đền Yasui Konpira-gu ban đầu được Fujiwara thuộc gia tộc Kamatari lập nên; ông đồng thời trồng những dãy hoa tử đằng bao bọc ngôi đền và gọi nó là “Fuji-dera” (“The Temple of Wisteria” nghĩa là gôi Đền hoa Tử Đằng), để cầu nguyện sự sung túc thịnh vượng cho gia đình và dòng tộc. Sau cuộc Duy tân Minh Trị, ngồi đền bị thu hồi bởi chùa Daikaku-ji (Ðại Giác Tự) và buộc phải đổi tên thành Yasui Jinja; vê sau, khi chiến tranh kết thúc, tên đền lại đổi thành Yasui Konpira-gu và được lưu giữ đến ngày hôm nay.

Enkiri Enmusubi-ishi:  trong tiếng Anh nghĩa là The “Stone of Breaking and Bonding”, là một tảng đá lớn với một cái lỗ ở giữa với bề mặt phủ kín bằng vô số dải những lá bùa hoặc katashiro, thuộc khuôn viên đền Yasui Konpira-gu. Người ta đến đây thường là để cầu nguyện cho tình yêu và các mối quan hệ. Có hai loại bùa tùy thuộc vào ước nguyện, mong muốn của người cầu khẩn: gắn kết hay chấm dứt một mối quan hệ. Đầu tiên, người cầu nguyện viết điều ước lên lá bùa tương ứng với nguyện vọng của mình; sau đó, người muốn chấm dứt một mối quan hệ (không tốt đẹp) sẽ trườn qua cái lỗ trên tảng đá từ phía trước và ngược lại, người muốn gắn kết một mối quan hệ (tốt đẹp) trườn lên từ phía sau của tảng đá; sau cùng là dán lá bùa lên tảng đá và cầu nguyện cho mong ước thành hiện thực.

Nishin soba: là mỳ soba với lát cá trích phủ trên mặt mì (cá có thể được ướp, om, hoặc sấy, đọc nhiều chỗ thì mỗi chổ ghi một kiểu, nhưng thường là ướp) trông rất ngon mắt. Sở dĩ có thể gọi nishin soba là đặc sản Kyoto vì nó đã gắn bó lâu đời với nơi đây, và món mì soba này nhiều khi vẫn còn xa lạ đối với người ngoài vùng Kansai. Mì nishin soba bắt nguồn từ thời Minh Trị, thuở đó, cá trích là nguyên liệu không thể thiếu trong việc nấu nướng hằng ngày của người dân.

O-fuda: một loại bùa trong Thần Đạo, cũng có thể gọi là shinpu, có viết tên của một vị thần cùng với tên ngôi đền thờ Thần Đạo trên bề mặt làm bằng giấy, gỗ, vải hoặc kim loại; thường được treo trước cửa hoặc bên trong để bảo vệ ngôi nhà và gia đình khỏi tai ương, bệnh tật.

Còn tiếp…

Lảm nhảm: cũng muốn viết về geisha, viết những gì general thôi, nhưng tự cảm thấy vốn từ quá hạn hẹp và dở tệ nên chắc… thôi bỏ ;___;

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s